Sự thiếu hụt chất Surfactant về số lượng hoặc chất lượng gây nguy cơ dẫn đến xẹp phổi thường gặp trong một số bệnh.

1. Tổn thương màng Surfactant Sự thiếu hụt chất Surfactant về số lượng hoặc chất lượng gây nguy cơ dẫn đến xẹp phổi thường gặp trong bệnh. - Bệnh màng trong ở trẻ em. - Hội chứng suy hô hấp cấp ở người lớn. - Tổn thương phổi cấp sau hít phải dịch vị. - Thở ôxy 100% kéo dài. - Gây mê đường hít. - Hít phải khói. - Đụng dập phổi. - Do dị vật, hít phải thức ăn, nút đờm trong bệnh phổi phế quản mãn tính, hen phế quản, bệnh saccoit, lao phế quản, u nấm... Chảy máu khí phế quản, phổi. - Viêm tiểu phế quản, phù nề phế quản, co thắt phế quản. - Chèn ép ngoài phế quản: các bất thường về tim mạch, khối u ở nhu mô phổi... Gây ra áp lực âm trong màng phổi không đủ. - Tràn dịch màng phổi. - Tràn khí màng phổi. - Trong phẫu thuật lồng ngực mở áp lực trong lồng ngực bằng áp lực khí quyển phổi sẽ xẹp nhanh chóng, trong tạo hình ngực, cắt xương sườn... - Khối choán chỗ trong màng phổi: u trung biểu mô, u lympho, tụ máu, dầy dính màng phổi sau viêm màng phổi mủ, sau gây dính màng phổi, thoát vị cơ hoành. - Do chèn ép trực tiếp vào nhu mô phổi, phế quản: U phổi, trung thất, hạch lao. Do các rối loạn vận động cơ hoành: Bệnh lý thần kinh cơ hoành, tăng áp lực trong ổ bụng(cổ trướng, viêm phúc mạc, sau phẫu thuật ổ bụng). 2. Tăng xơ phổi Lao xơ phổi, xơ phổi tiến triển, bệnh phổi kẽ. Bụi phổi silic, amiăng, điều trị bằng tia xạ. 3. Giảm thông khí phế nang - Bệnh phổi hạn chế: gù vẹo cột sống, viêm dầy dính màng phổi. - Những chấn thương vùng ngực, bụng, đau không hít thở được sâu. - Sau phẫu thuật lồng ngực, bụng có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ hoành. - Tổn thương tuỷ sống cổ gây liệt cơ hô hấp. - Các bệnh thần kinh cơ: Hội chứng Guillain Barré, hội chứng Porphyrie niệu cấp, bệnh nhược cơ nặng, rắn hổ cắn, ngộ độc phospho hữu cơ... - Bệnh béo phì. - Người già, nằm bất động lâu một tư thế. 4. Thông khí nhân tạo dài ngày 4.1. Ứ đọng đờm, chất tiết khí phế quản. Tắc nghẽn khí phế quản do đờm, chất tiết khí phế quản bị khô quánh do cung cấp nước không đầy đủ, khí thở vào không đủ ẩm, do mất nước, tăng tiết mồ hôi, nước bọt, dịch vị, dịch tiêu hoá. Khô dịch tiết phế quản còn có thể do thuốc như atropin trong điều trị ngộ độc phospho hữu cơ. Nút tắc đờm khí phế quản dẫn đến xẹp phổi thường xuyên gặp ở bệnh nhân được đặt nội khí quản, mở khí quản, thở máy dài. 4.2. Di lệch ống nội khí quản, canun mở khí quản vào sâu một bên phổi, thường vào sâu khí quản gốc phải làm tăng thông khí phổi phải và làm giảm hoặc mất thông khí phổi trái. Di lệch ống có thể gặp ngay sau thủ thuật nhưng thường là trong thời gian duy trì ống do cố định ống chưa tốt, do thao tác hút đờm, do bệnh nhân giãy giụa... 4.3. Tổn thương niêm mạc khí phế quản do hút đờm, áp lực hút tại đầu ống sonde gây bong, chợt, loét niêm mạc khí phế quản dẫn đến nhiễm khuẩn, tăng tiết nhiều đờm tạo thuận lợi cho bít tắc khí phế quản. 4.4. Giảm thông khí phế nang: Trong thông khí nhân tạo, dòng chảy của khí chậm, đều, không phân bố đều trong phổi, có vùng tăng thông khí, có vùng giảm thông khí, nhất là khi bệnh nhân nằm lâu ở một tư thế sẽ làm giảm thông khí, xẹp phổi. 4.5. Chấn thương phổi do áp lực dẫn đến vỡ phế nang, tràn khí màng phổi. 4.6. Giảm phản xạ ho, khạc ở bệnh nhân hôn mê, liệt cơ, dùng thuốc an thần dẫn đến ứ đọng đờm. 4.7. Do nằm bất động lâu. 4.8. Tổn thương phổi do trào ngược, hít phải dịch vị, thức ăn. 4.9. Nhuyễn sụn khí, phế quản do viêm tái diễn, kéo dài. 4.10. Hẹp khí, phế quản do tổn thương tỳ đè của thành ống nội khí quản, canun mở khí quản, do áp lực bóng chèn đầu ống quá cao, do tổ chức hạt sùi vào lòng khí quản sau rút ống. Theo Suckhoedoisong.vn